Ví dụ, tiêu đề sách lịch sử luôn có những nét đặc trưng như có từ lịch sử xuất hiện, nếu không thì những từ còn lại thường báo cho độc giả biết cuốn sách này viết về chuyện đã xảy ra. Lập luận là một chuỗi các mệnh đề tạo nền tảng cơ sở cho một kết luận. Khi đọc một tác phẩm triết học, những gì chúng ta quan tâm chính là các câu hỏi triết học chứ không phải câu hỏi khoa học hay lịch sử.
Nhiều khi, chúng ta thích hay không thích một tuýp người này hơn tuýp người khác mà không biết tại sao. Thucydides đã nói rằng ông ta viết câu chuyện lịch sử đó để con người tương lai không mắc lại lỗi lầm mà con người ở thời ông mắc phải, cũng như để nhân loại không phải gánh chịu những hậu quả mà cá nhân ông đã phải chịu đựng cùng sự đau đớn của đất nước quê hương ông. Tương quan về phía độc giả và người nghe, kỹ năng tu từ chính là biết cách đáp lại người cố thuyết phục hoặc làm cho chúng ta tin vào điều gì đó.
Anh ta đọc rất chủ động với sự nỗ lực lớn. Sở dĩ như vậy là vì với lĩnh vực khoa học xã hội, độc giả thường phải đọc từ hai tác phẩm trở lên về cùng một chủ đề thì mới có thể hiểu được chủ đề đó. Một trong những lý do khiến truyện hư cấu dường như đã trở thành một phần tất yếu của đời sống con người là vì nó thoả mãn nhiều nhu cầu, kể cả nhu cầu nhận thức được cũng như không nhận thức được của con người.
Thứ ba, ngay cả khi các nhân vật có hẳn một bài diễn thuyết, ví dụ như Settembrini nói về sự tiến bộ trong cuốn Magic Moutain (Ngọn núi kỳ diệu) của Thomas Mann, chúng ta cũng không thể chắc rằng đó cũng chính là quan điểm của tác giả. Một cuốn sách lý thuyết có thể làm được việc đó trong khi một vấn đề thực tiễn phải được giải quyết bằng chính hành động. Những điều chúng ta biết đều phụ thuộc vào họ.
Hiếm khi có tác giả nào một mình một quan điểm trong tình huống gây tranh luận. Chúng tôi đã chỉ ra rằng nếu người đọc đồng tình với một tác phẩm, nghĩa là đồng ý với cách kết thúc của tác phẩm và chấp nhận cách thức tác giả đưa ra để đạt được kết quả đó, họ sẽ buộc phải hành động. Tất nhiên, sự thận trọng là cần thiết và bạn cần biết cả hai ngôn ngữ (chính là hai quyển sách) càng tường tận càng tốt.
Thứ nhất, một từ có nhiều nghĩa khác nhau có thể được sử dụng với một nghĩa duy nhất hoắc kết hợp nhiều nghĩa một lúc. Có thể áp dụng chúng cho bất kỳ tài liệu đáng đọc nào, như một cuốn sách, một bài báo, hay một mẩu quảng cáo. Song, để đảm bảo tranh luận công bằng hơn, ít gay gắt hơn, mỗi cá nhân cần đặt mình vào địa vị của đối phương.
Do đó, một cuốn sách về tiểu sử cũng có rất nhiều vấn đề giống cuốn sách lịch sử. Nếu sự hứng thú của bạn đối với cuốn sách mang tính thực tế, bạn sẽ muốn giải quyết vấn đề về phương pháp học đọc. ĐÁNH SỐ CỦA NHỮNG TRANG KHÁC BÊN LỀ: Để chỉ ra những chỗ khác trong cuốn sách có nhận định tương tự, hay những ý liên quan hoặc đối lập với những ý đã được đánh dấu; tập hợp các ý liên quan đến nhau nhưng nằm rải rác trong cuón sách.
Mười sửa đổi đầu tiên tạo nên Dự thảo Luật về Quyền con người. Nếu không, theo chúng tôi, không thể gọi tập hợp này là lịch sử của thời kỳ được nói đến. Do đó, quy tắc chung đối với đọc ngoài là đọc nhiều cuốn sách liên quan tới nhau và đọc theo trình tự.
Thứ hai, bạn phải diễn đạt rõ ràng các nhận định của mình. Chỉ khi chúng ta cùng nhìn nhận một từ theo cùng một cách thì mới có sự giao lưu về tư duy. Điều này có nghĩa là bạn cần có kiến thức tương đối toàn diện về một loại sách tham khảo cơ bản trước khi sử dụng hữu hiệu một loại nào đó.
Thậm chí, khi đã hiểu giáo viên nói gì, người học phải sẵn sàng tranh luận với thấy. Sẽ uổng phí nếu bạn đọc một cuốn sách thật chậm khi nó chỉ đáng để bạn đọc nhanh. Nếu có nhiều nghĩa, hãy tìm xem các nghĩa đó liên hệ với nhau như thế nào.